- Để xác định mức độ “nóng”, “lạnh” của vật người ta dùng khái niệm nhiệt độ.
- Vật nóng hơn có nhiệt độ cao hơn.
- Vật lạnh hơn có nhiệt độ thấp hơn.
- Đơn vị đo nhiệt độ:
- Trong hệ SI là Kelvin (kí hiệu K).
- Thường dùng ở Việt Nam là độ C (kí hiệu °C).
- Dụng cụ đo nhiệt độ là nhiệt kế.
- Khi cho hai vật chênh lệch nhiệt độ tiếp xúc nhau:
- Năng lượng nhiệt (nhiệt năng) tự truyền từ vật có nhiệt độ cao hơn sang vật có nhiệt độ thấp hơn.
- Phần năng lượng truyền từ vật có nhiệt độ cao hơn sang vật có nhiệt độ thấp hơn được gọi là nhiệt lượng.
- Quá trình truyền nhiệt kết thúc khi hai vật ở cùng nhiệt độ gọi là trạng thái cân bằng nhiệt.
- Các hình thức truyền nhiệt: dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ nhiệt.
- Bản chất (cơ chế) của sự dẫn nhiệt là: sự truyền động năng của các phân tử khi va chạm.
- Chọn hai mốc nhiệt độ:
- Khoảng giữa hai mốc nhiệt độ này được chia thành 100 khoảng bằng nhau ⇒ thang nhiệt độ này được gọi là thang nhiệt độ bách phân.
- Kí hiệu bằng chữ t, đơn vị là độ C (°C).
- Lấy theo tên của nhà vật lí thiên văn người Thụy Điển là Anders Celsius (1701 – 1744), người đề xuất thang đo năm 1742.
- Chọn hai mốc nhiệt độ là:
- Nhiệt độ không tuyệt đối là nhiệt độ mà tại đó động năng chuyển động nhiệt của các phân tử cấu tạo nên vật chất bằng không và thế năng của chúng là tối thiểu.
- Chỉ có thể hạ nhiệt độ xuống gần giá trị 0 K chứ không thể đạt đến giá trị này. Hiện nay, nhiệt độ thấp nhất có thể tạo ra là 3,8.10-11 K.
- Tại nhiệt độ này, nước tinh khiết tồn tại ở đồng thời ba thể rắn, lỏng và hơi.
- Khoảng giữa hai mốc nhiệt độ này chia thành 273,16 khoảng bằng nhau, mỗi khoảng bằng 1 K.
- Kí hiệu là T, đơn vị là Kelvin (K).
- Nhiệt độ trong thang này được gọi là nhiệt độ nhiệt động lực học.
- Thang nhiệt độ này được lấy theo tước vị của nhà vật lí, kĩ sư người Ireland là William Thomson, nam tước Kelvin thứ nhất (1824 – 1907).
- Chọn hai mốc nhiệt độ là:
- Trong khoảng giữa hai mốc nhiệt độ này, chia thành 180 khoảng bằng nhau, mỗi khoảng 1°F.
- Kí hiệu là t(°F), đơn vị là °F.
- Thang nhiệt độ Fahrenheit được nhà vật lí người Đức là Daniel Fahrenheit đề xuất năm 1724.
Δℓ (m) là độ nở dài.
ℓ0 (m) là chiều dài tương ứng với nhiệt độ đầu T0 (K) hoặc t0 (°C).
ℓ (m) là chiều dài tương ứng với nhiệt độ sau T (K) hoặc t (°C).
ΔT = T − T0 (K) = Δt = t − t0 (°C) là độ tăng nhiệt độ.
- Khi nhiệt độ tăng thêm ΔT = 1 K (Δt = 1°C), vật rắn nở dài thêm một đoạn Δℓ1 so với chiều dài ban đầu ℓ01 của vật rắn thì α = Δℓ1 / ℓ01
- α [1/K] hoặc (K-1) là hệ số nở dài (độ dãn tỉ đối Δℓ1/ℓ01 của vật rắn khi nhiệt độ tăng thêm 1 K).
- Nhiệt kế là thiết bị dùng để đo nhiệt độ.
- Các nhiệt kế thường dùng: dựa trên sự nở vì nhiệt của các chất.
- Sự nở dài của chất lỏng: nhiệt độ được xác định thông qua độ cao cột chất lỏng (nhiệt kế thủy ngân, nhiệt kế rượu, nhiệt kế dầu).
- Sự nở dài của thanh kim loại mỏng thẳng hoặc xoắn ốc: nhiệt độ được xác định thông qua độ dài của thanh kim loại (nhiệt kế kim loại).
- Sự nở tích của một lượng khí ở áp suất không đổi: nhiệt độ được xác định thông qua thể tích một lượng khí (nhiệt kế khí).
- Nhiệt kế điện trở: dựa trên sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ.
- Nhiệt kế hồng ngoại: bức xạ nhiệt (nhiệt kế y tế điện tử).
| Loại nhiệt kế | Thủy ngân | Rượu | Kim loại | Y tế |
|---|---|---|---|---|
| Hình ảnh | ![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Thang nhiệt độ | Từ -10°C đến 110°C |
Từ -30°C đến 60°C |
Từ 0°C đến 400°C |
Từ 34°C đến 42°C |
- Thủy ngân trong nhiệt kế là một chất lỏng dễ bay hơi, gây độc cao. Vì thế nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, cần chú ý:
| NÊN LÀM |
|
| KHÔNG NÊN LÀM |
|










